KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HẢI PHÒNG

0
278

KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HẢI PHÒNG

CUỘC CHIẾN ĐẤU BA TRĂM NGÀY

GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG

( 7-1954 – 5-1955 ).

Chiến thắng Điện Biên Phủ và chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 đã tạo ra những điều kiện quyết định thắng lợi cho nhân dân ta trong cuộc đàm phán ở Hội nghị Giơnevơ (Genève). Ngày 20-7-1954, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết tại Giơnevơ. Nước Pháp và các nước dự Hội nghị công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia. Nước Pháp cam kết rút quân khỏi ba nước Đông Dương.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam quy định giới tuyến quân sự tạm thời để hai bên tập kết là vĩ tuyến 17: Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến, quân đội Pháp ở phía Nam giới tuyến. Lịch rút quân và chuyển quân của quân đội Pháp được quy định: Chu vi Hà Nội 80 ngày, chu vi Hải Dương 100 ngày, chu vi Hải Phòng 300 ngày.

Khu tập kết 300 ngày của quân đội Pháp (chu vi Hải Phòng) bao gồm thành phố Hải Phòng và bốn tỉnh Kiến An, Hải Dương, Quảng Yên và Hòn Gai. Phạm vi tập kết của Hải Phòng và Kiến An có thành phố Hải Phòng và các huyện thị: An Dương, Hải An, An Lão, Kiến Thụy, tỉnh lỵ Kiến An, thị trấn Đồ Sơn. Hai huyện Thuỷ Nguyên, Cát Hải trong phạm vị tập kết 300 ngày nhưng thời kỳ này thuộc tỉnh Quảng Yên.

Hải Phòng-vị trí chiến lược quan trọng nhất của khu tập kết 300 ngày. Với hệ thống cảng biển, sân bay Cát Bi, sân bay Kiến An, sân bay Đồ Sơn… Hải Phòng-Kiến An trở thành cầu nối duy nhất giữa miền Nam và miền Bắc trong giai đoạn này. Đây là nơi thực dân Pháp chuyên chở binh lính vào Nam, cùng đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ, gài gián điệp trước khi rút khởi miền Bắc.

Ngay sau thất bại ở Điện Biên Phủ, nhiều cơ quan dân sự, quân sự, chính trị, quân đội, các đảng phái và tổ chức tay sai của Pháp đến chủ nhà băng, nhà máy, nhà buôn, lũ lượt dồn về Hải Phòng chờ ngày xuống tàu. Lực lượng quân sự của địch trên địa bàn Hải Phòng-Kiến An có nhiều thay đổi. Chúng rút quân từ các vị trí lẻ về tăng cường các trọng điểm bảo vệ Hải Phòng và dùng lính Lê dương thay thế các đơn vị lính ngụy.

Mục tiêu hàng đầu của Pháp khi ký Hiệp định đình chiến ở Đông Dương là để cứu đội quân viễn chinh khởi bị tan rã sau thất bại Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, Pháp vẫn chưa dứt bỏ hoàn toàn tham vọng thực dân. Ngay sau khi ký kết, Pháp đã trắng trợn vi phạm Hiệp định bằng hành động vây ráp bắt lính, cướp đoạt tài sản, tuyên truyền xuyên tạc chính sách của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nghiêm trọng hơn là âm mưu thâm độc cưỡng ép, dụ dỗ nhân dân miền Bắc di cư, phá hoại và chuyên chở máy móc tài sản vào Nam… Được Mỹ trực tiếp chỉ huy, quân đội Pháp và các đảng phái phản động ráo riết hoạt động. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều đảng phái và các tổ chức khác nhau đã xuất hiện. Ngoài đảng Đại Việt, Việt Nam quốc dân Đảng, nổi lên các tổ chức mới như: Năm sao trắng, Phong trào cách mạng quốc gia, Cần lao cách mạng Đảng, Việt Nam cách mạng Đảng, Bảo vệ người Pháp ở Việt Nam, Hoa kiều cứu quốc, Thanh niên giải phóng quê hương v.v… Về thực chất, đây chỉ là những tổ chức ô hợp do Mỹ, Pháp và Ngô Đình Diệm đặt ra để phục vụ cho âm mưu phá hoại việc thực hiện Hiệp định Giơnevơ.

Đế quốc Mỹ coi việc mất Đông Dương là “một tai hoạ”. Ngay trong đêm Pháp thua ở Điện Biên Phủ, Tổng thống Mỹ Aixenhao (Dwight Eisenhower) họp với ngoại trưởng Đalét (John Foster Dulles) bàn chủ trương hất cẳng Pháp.

Ngày 8-8-1954, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ họp quyết định một số chính sách căn bản:

  1. Mỹ trực tiếp viện trợ ngụy quyền Sài Gòn không qua tay Pháp. Trong 400 triệu đôla viện trợ chỉ dành cho quân đội Pháp 100 triệu.
  2. Mỹ trực tiếp chỉ huy quân đội ngụy.
  3. Pháp rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam và ủng hộ chính phủ Diệm.
  4. Loại bỏ Bảo Đại tay sai lâu đời của Pháp.

Mỹ đưa Ngô Đình Diệm từ Oasinhtơn (Washington) về Sài Gòn chuẩn bị lập chính phủ mới. Để hợp pháp hoá việc nhảy vào xâm chiếm miền Nam, tại Mani (Manille-Philippin) ngày 8-9-1954, Mỹ và phe lũ ký Hiệp ước lập khối quân sự Đông-Nam Á (SEATO), một liên minh chống cộng gồm các cường quốc chính của phương Tây và một số nước chư hầu châu Á. Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia cũng đặt dưới sự bảo trợ của khối này. Đầu tháng 6-1954, Mỹ đưa đại tá Lenxđên trùm tình báo CIA sang Việt Nam, bày mưu cho Diệm mở chiến dịch di cư nhằm đưa hàng triệu người và hàng chục ngàn tấn máy móc, tài sản vào Nam, để lại những thành phố, thị xã trống rỗng tiêu điều về kinh tế, phức tạp, rối loạn về chính trị xã hội.

Ba trăm ngày đóng quân cuối cùng của thực dân Pháp ở Hải Phòng-Kiến An cũng là 300 ngày đấu tranh gay go quyết liệt nhưng vô cùng sôi động của nhân dân trên các mặt chính trị, kinh tế đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ và bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được.

Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam tháng 7 năm 1954 xác định kẻ thù chính của nhân dân ta lúc này là đế quốc Mỹ. Cuộc chiến đấu của quân và dân Hải Phòng-Kiến An đã chuyển sang giai đoạn mới. Trước đây Pháp tăng cường khu cố thủ Hải Phòng, ta tìm mọi cách phá, nay chúng ra sức phá hoại, ta kiên quyết giữ. Ba trăm ngày đấu tranh giải phóng Hải Phòng-Kiến An là 300 ngày Đảng bộ và nhân dân thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giữ vững hoà bình, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Tháng 9 năm 1954, Bộ chính trị Trung ương Đảng họp hội nghị nhận định tình hình nhiệm vụ mới, nêu rõ đặc điểm trong giai đoạn này là: Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, nước nhà tạm thời chia làm hai miền, từ nông thôn chuyển vào thành thị. Trung ương Đảng và Chính phủ rất quan tâm việc tiếp quản khu tập kết 300 ngày, trọng tâm là thành phố Hải Phòng, vì giải phóng Hải Phòng là giải phóng hoàn toàn miền Bắc: “Việc chúng ta tiếp quản được những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng… khiến chúng ta không những có nông thôn, mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp… Đó là một biến đổi lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết theo quy mô một quốc gia”.

Tháng 12-1954, Khu uỷ Tả Ngạn mở Hội nghị cán bộ vùng tập kết 300 ngày. Hội nghị xác định rõ tình hình nhiệm vụ, phương hướng công tác của từng tỉnh, thành phố và đặc biệt chú trọng việc chuẩn bị cán bộ cho nhiệm vụ trọng tâm là tiếp quản các thành phố, tỉnh lỵ.

Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, hội nghị Thành uỷ Hải Phòng mở rộng (từ ngày 18 đến ngày 20-9-1954) xác định nhiệm vụ của nhân dân thành phố Hải Phòng lúc này là: Chuẩn bị tốt cho việc tiếp quản, chống cưỡng ép di cư, chống di chuyển phá hoại tài sản, chống bắt lính và vận động binh sĩ ngụy trở về gia đình quê hương…

Để hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ trên, hai Đảng bộ chú trọng tuyên truyền thắng lợi của cuộc kháng chiến, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và thắng lợi của ta ở Hội nghị Giơnevơ, giải thích sâu rộng chính sách của Đảng và Chính phủ, chống luận điệu vu cáo và xuyên tạc của kẻ thù, ổn định tư tưởng quần chúng. Trước hết Thành uỷ và Tỉnh uỷ gấp rút xây dựng phát triển cơ sở, kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể, tăng cường nhiều cán bộ chỉ đạo nội thành. Ngành quân sự xúc tiến củng cố Ban chỉ huy Thành đội, Tỉnh đội và các ban chuyên môn, hướng dẫn xây dựng đội tự vệ khu phố, xí nghiệp, kiện toàn các đội dân quân du kích huyện ngoại thành. Thành uỷ Hải Phòng đã di chuyển chỉ huy sở về gần thành phố để kịp thời chỉ đạo công tác hàng ngày.

Khó khăn lớn nhất của Đảng bộ Hải Phòng là thực hiện nhiệm vụ mới trong điều kiện đội ngũ cán bộ, tổ chức cơ sở còn rất thiếu và yếu do bị địch khủng bố ác liệt những năm trước. Công tác tổ chức chưa đáp ứng kịp đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị. Khắc phục nhược điểm đó, những lớp huấn luyện ngắn ngày về công tác tiếp quản được mở liên tiếp. Có những lớp do Trung ương và Khu uỷ đào tạo, nhưng cũng nhiều lớp do Thành uỷ, Tỉnh uỷ mở. Các ngành, các đoàn thể cũng chủ động mở lớp huấn luyện, nội dung phù hợp, gắn liền với thực tế của địa phương mình. Qua học tập, đội ngũ cán bộ hiểu rõ tình hình mới, nắm vững phương hướng, chủ trương chính sách mới của Đảng và Chính phủ.

Sau ngừng bắn, hai Đảng bộ chủ trương mở đợt giải thích rộng rãi về đường lối chính sách của Đảng nhằm tranh thủ và đoàn kết nhân dân. Tại vùng giải phóng, chính quyền nhân dân tổ chức nhiều cuộc mít tinh, hội họp mừng thắng lợi. Cổng chào được dựng lên với cờ hoa rực rỡ, đường làng ngõ xóm sạch sẽ phong quang, tiếng trống rộn ràng của thiếu nhi cổ động khuếch trương thắng lợi. Cán bộ, bộ đội tập trung giúp đồng bào ổn định đời sống, tăng gia sản xuất. Không khí sôi nổi phấn khởi mừng chiến thắng tràn nhập khắp mọi nơi. Hoạt động văn hoá văn nghệ, nhất là văn nghệ quần chúng với những bài hát câu hò tự biên tự diễn đã lôi cuốn đông đảo mọi người. Cuộc sống hoà bình tự do thu hút đồng bào vào nhịp điệu lao động khẩn trương. Dân quân du kích và bộ đội lập thành các tổ tháo gỡ bom mìn, dây thép gai… phục hồi từng mảnh vườn xác xơ, từng thửa ruộng hoang hoá. Hàng ngàn người có mặt trên khắp cánh đồng cùng bộ đội san lấp hố bom, nhặt mảnh bom đạn, đắp đê, khơi ngòi, rửa mặn, khai hoang phục hoá. Chỉ trong một thời gian ngắn, hầu hết các tuyến đê ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, Kiến Thụy, Thuỷ Nguyên đã được bồi đắp như đê Trung Trang, Kim Côn, đê sông Hoá, sông Luộc, Đông Côn… Lúa và khoai lang lên xanh tốt. Đặc biệt, khoai lang chống đói được trồng ở khắp mọi nơi, từ chân gò, đồng hoang tới ven bãi. Binh sĩ ngụy đào ngũ trở về cũng tích cực tham gia lao động, hoà mình trong tấm lòng nhân ái của đồng bào. Cuộc sống mới giúp họ nhận rõ bản chất tốt đẹp của chế độ mới, tạo niềm tin tưởng vào tương lai. Với tinh thần “nhường cơm sẻ áo”, “tương trợ cứu đói”, các địa phương tổ chức quyên góp thóc gạo giúp đỡ những gia đình khó khăn, túng thiếu hoặc bị tại nạn trong chiến tranh. Toàn dân tích cực tăng gia sản xuất và đóng thuế nông nghiệp. Ở nội thành, cán bộ đảng viên tìm mọi cách thâm nhập nhanh vào nhà máy, công sở, đường phố… tìm hiểu tư tưởng, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân.

Chiến thắng Điện Biên Phủ cùng thắng lợi Hội nghị Giơnevơ đã mang đến niềm vui trong toàn dân. Nhân dân Hải Phòng-Kiến An dù còn sống trong sự o ép của kẻ thù thêm 300 ngày, vẫn náo nức chuẩn bị mọi mặt chờ ngày giải phóng. Các ngành, các đoàn thể có điều kiện thuận lợi phát triển cơ sở nhanh trong các tầng lớp nhân dân lao động, nhất là trong các nhà máy công sở. Với phương châm “Kiên trì, thận trọng, chủ động, linh hoạt, phổ biến kịp thời” cán bộ vừa xây dựng cơ sở vừa tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân lao động, công nhân, trí thức, tiểu tư sản, đồng bào công giáo và người Hoa… Truyền đơn, báo chí của Đảng được bí mật đưa vào nội thành. Báo Cứu quốc, Nhân dân, Quân đội, Lao động và tờ Tin Hải Phòng với số lượng lớn, nội dung phong phú, kịp thời đến với nhân dân.

Thực hiện chủ trương của trên, hai Đảng bộ Hải Phòng-Kiến An triển khai sâu rộng, mạnh mẽ công tác địch vận, vận động binh sĩ ngụy bỏ hàng ngũ trở về quê hương. Cán bộ các đoàn thể tổ chức rải truyền đơn tuyên truyền chính sách của Chính phủ đối với ngụy quân ngụy quyền. Bằng nhiều hình thức phong phú thích hợp, chị em hội phụ nữ phát huy khả năng vốn có của mình, đến từng gia đình gặp binh sĩ trao đổi động viên, khơi gợi tình cảm gia đình, tình làng xóm quê hương.

Hằng ngày, từng đoàn người dẫn đầu là các mẹ các chị kéo lên đồn bốt gọi chồng con, anh em trở về. Nhiều chị em dù không có người thân đi lính cũng gia nhập đoàn, lên đồn bốt nhận người nhà lôi kéo về. Phong trào địch vận mở ra rầm rộ, sôi nổi và đạt nhiều thắng lợi lớn. Ở các địa phương, ngụy binh bỏ ngũ tập thể ngày càng đông. Một tháng sau hội nghị Giơnevơ kết thúc, Hải Phòng đã có 3481 binh sĩ và 23 đại đội ngụy bỏ ngũ. Ở Thuỷ Nguyên cả đại đội quận dũng bỏ đơn vị, tiểu đoàn pháo Núi Đèo cũng tan vỡ, 100 lính thuộc các đồn Trịnh Xá, Kiền Bái đem súng trở về với nhân dân. Huyện đảo Cát Hải những ngày cuối năm 1954, nhân dân kéo lên đồn đòi chồng con làm tan rã đại đội lính địa phương. Tỉnh uỷ Kiến An có kế hoạch đẩy mạnh công tác binh vận, ngăn chặn việc chuyển lính vào Nam. Hàng vạn truyền đơn, áp phích, khẩu hiệu được rải khắp nơi, vào đồn bốt đến tận tay binh lính và sĩ quan địch.

Binh sĩ thuộc tiểu đoàn 22 da đen, 120 lính Marốc ở Khinh Giao, 453 lính Âu-Phi ở Rế và Đồng Giới, tiểu đoàn 14 trại pháo thủ… đấu tranh với chỉ huy đòi hồi hương. Họ được về nước trước thời hạn. Ngoài ra còn nhiều lính chạy trốn sang vùng giải phóng.

Đối phó với tình trạng sĩ quan và binh lính đảo ngũ hàng loạt, thực dân Pháp tăng cường bao vây và kiểm soát chặt chẽ các tuyến đường, bến đò, bến tàu ra vùng giải phóng, đưa lính từ Sài Gòn ra Hải Phòng tăng cường cho các vị trí quan trọng. Song, dù thực hiện nhiều biện pháp nghiêm ngặt chúng vẫn không thể ngăn  chặn nổi việc hàng loạt binh lính và sĩ quan ngụy đang hàng ngày, hàng giờ rủ  nhau bỏ đơn vị trở về với gia đình quê hương.

Lợi dụng điều 14 Hiệp định Giơnevơ về tự do đi lại, tự do lựa chọn chỗ ở, đế quốc Mỹ tiến hành chiến dịch dụ dỗ, cưỡng ép dân miền Bắc di cư vào Nam. Đây là âm mưu thâm độc nhất của Mỹ nhằm phá hoại công cuộc xây dựng miền Bắc, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Mỹ đã đưa sĩ quan và lính giúp việc sang Việt Nam, chịu hết, mọi khoản phí tổn, từ tiền của đến phương tiện cho công cuộc di cư.

Tháng 7 năm 1954, Mỹ bỏ ra hàng triệu đồng (tiền Đông Dương) để Ngô Đình Diệm chi về di cư. 200 phi công và nhân viên đến làm việc tại sân bay Cát Bi ngay sau đình chiến. Tàu của Mỹ và Nhật liên tiếp cập bến Hải Phòng chuyển tới nhiều vũ khí và ngược lại chở người vào Nam. Số vũ khí này một phần dành cho bọn tay sai, gián điệp cất giấu ngay tại Hải Phòng.

Đối tượng chính của chiến dịch di cư là đồng bào theo đạo Thiên chúa. Ở những vùng công giáo toàn tòng, trong kháng chiến giáo dân đã vì theo linh mục mà vũ trang “diệt cộng” thì nay trở thành nạn nhân chính. Lợi dụng lòng tin và sự hiểu biết hạn chế của giáo dân về chính sách tôn giáo của Chính phủ, kẻ thù dựng lên nhiều chuyện giật gân, nhảm nhí để chứng minh “Cộng sản phá đạo”,  “Chúa đã vào Nam”, về những cuộc “trả thù đẫm máu”. Linh mục giữ vai trò quan trọng trong các ban di cư. Tại các xứ đạo ở Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão…lợi dụng những buổi cầu lễ rửa tội công khai dụ dỗ giáo dân, tung tin: “Chúa đã vào Nam, ở miền Bắc bị mất linh hồn, các cha đi hết sẽ không có ai rửa tội” v.v… .

Nhằm xúc tiến mạnh chiến dịch di cư, Mỹ và chính quyền tay sai tăng cường kiểm tra thị sát Hải Phòng. Tháng 8 năm 1954, Ngô Đình Diệm ra Bắc đôn đốc di cư. Tới thăm trại ở trường Ngô Quyền Hải Phòng, Diệm đã hứa hẹn một cuộc sống giàu có, sung túc trong Nam và tuyên bố “Tôi sẽ hướng mọi nỗ lực của tôi vào việc di cư”. Sau đó, Diệm chỉ thị cho bọn tay chân tìm mọi cách ép buộc dân vào Nam càng nhiều càng tốt. Ngày 15-1-1955, tướng Mỹ Côlin (André Colin) thăm trại An Trì, An Lạc, Xi măng. Ngày 23-1, giáo chủ Spenman (Spellman) tới các trại phát đường, sữa, gạo, vải… mua chuộc giáo dân. Để tăng thêm áp lực, tướng Cônhi (Cogny) phát lệnh “Đặt chu vi Hải Phòng trong tình trạng báo động”.

Sau hàng loạt những cuộc thị sát này, Hải Phòng càng phức tạp căng thẳng vì những hoạt động gắt gao của kẻ thù. Chúng thả sức đàn áp, cướp của, giết người… rồi vu vạ “Cộng sản phá hoại thực hiện di cư”, Nhà thờ phố Dinh (nay là phố Trần Nguyên Hãn) những ngày tháng 1 năm 1955, sau buổi lễ cha xứ tháo chuông và ảnh Đức Mẹ, ép buộc ai không đi Nam phải bước qua ảnh. Giáo dân kinh hoàng khóc than và tất cả phải ký giấy đồng ý ra đi.

Hiệp định Giơnevơ quy định rõ bên nào tạm đóng quân ở đâu phải chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho địa phương đó. Phía Pháp trắng trợn phản bội những điều đã ký kết. Chúng ngang nhiên tổ chức vây ráp các khu phố đông dân, vùng ven thành để bắt lính, cướp giật tài sản… gây nên tình trạng lộn xộn, tâm trạng lo lắng trong nhân dân. Những hành động vi phạm trên diễn ra hàng ngày hàng giờ, bọn ăn cướp không bị trừng trị mà còn được khuyến khích.

Từ ngày đình chiến đến giữa tháng 12-1954 riêng thành phố Hải Phòng, phía Pháp và các tổ chức phản động đã vi phạm 217 lần, bắt 1672 người, giết chết 9 người, cướp đi 253.410 đ (tiền Đông Dương) 240.000đ (tiền ngân hàng) và 26 lạng vàng. Tháng 3 năm 1955 vây 32 lần, bắt giữ 318 người, giết hại 13 người, làm bị thương 11 người.

Trước những hành động điên cuồng của địch, trước tình hình diễn biến phức tạp, Bộ chính trị Trung ương Đảng chỉ thị “Việc phá tan âm mưu địch bắt ép đồng bào ta vào Nam là một cuộc đấu tranh gay go cấp bách. Các cấp uỷ cần tăng cường lãnh đạo đấu tranh, tập trung những cán bộ có năng lực vào những địa phương quan trọng, hướng dẫn quần chúng đấu tranh… làm cho nhân dân nhận rõ chính sách của ta, nhất là những chủ trương mới trên cơ sở ổn định tư tưởng của nhân dân”.

Ban chỉ đạo thống nhất khu tập kết ba trăm ngày được thành lập do đồng chí Đỗ Mười, Bí thư Khu uỷ Tả ngạn làm trưởng ban. Đồng chí Hoàng Mậu, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng tham gia ban chỉ đạo. Tháng 3 năm 1955, Trung ương Đảng chỉ định đồng chí Đỗ Mười trực tiếp làm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng và kiện toàn Ban chấp hành Đảng bộ. Hải Phòng tách  khỏi khu Tả ngạn, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương.

Với phương châm “thuyết phục là chính”, cán bộ và bộ đội toả về các làng Thiên chúa giáo, trại tập trung di cư… tuyên truyền giải thích chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ về công thương nghiệp, tôn giáo, ngụy binh, 8 chính sách vùng mới giải phóng v.v… Đây chính là những nội dung cần thiết nhất để giữ yên lòng dân. Một số nhà tư sản, trí thức được mời tham quan Hà Nội, Hải Dương chứng kiến sự thật, giải đáp nỗi băn khoăn vướng mắc, từ họ tác động tới nhiều người cùng quyết tâm ở lại. Tuy nhiên, thời kỳ đầu ta chưa nhận thức sâu sắc âm mưu thâm độc của chiến dịch di cư nên còn lúng túng về phương thức đối phó. Mặt khác do tin tưởng đa số công nhân, nhân dân lao động đã được giác ngộ sẽ ít di cư nên lãnh đạo còn coi nhẹ. Cán bộ ngại tiếp xúc với giáo dân cho rằng khó gần, khó tuyên truyền… Khi phát hiện những thiếu sót trên, Thành uỷ mở Hội nghị cán bộ, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác này, uốn nắn tư tưởng, quan điểm nhân dân của cán bộ, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, có kế hoạch kiểm tra đôn đốc. Nhiều cán bộ chủ chốt được tăng cường cho nội thành để chỉ đạo đấu tranh.

Việc vận động công nhân và nhân dân lao động chống di cư dần dần đi đúng hướng. Cán bộ bày cách cho các gia đình, công nhân viên chức cứ ghi tên nhận tiền để bọn lưu manh không đe dọa rồi tìm cách trì hoãn không đi. Tại Công chính kiều lộ, Công chính thành phố, Bưu điện, Thuyền vụ và Cảng… công nhân mạnh dạn phản đối chủ, vạch mặt nhóm công đoàn vàng. Công nhân đồng loạt làm đơn gửi Uỷ ban quốc tế tố cáo chủ sa thải, cắt lương, thúc ép họ di cư. Do sự vận động của cán bộ, nhiều nhân viên kỹ thuật và một số cai ký của các xí nghiệp, công sở đã trở thành cơ sở tin cậy. Họ tìm cách lấy tài liệu, hồ sơ gửi ra ngoài. Nhiều người bí mật tìm ra vùng giải phóng mang theo những tài liệu quan trọng. Tầng lớp học sinh, nhà giáo tích cực đòi lại trường học bị chiếm đoạt, đòi nhà cầm quyền tiếp tục  khai giảng năm học mới. Bằng nhiều biện pháp, ta đã vận động khá đông gia đình và cá nhân ở lại. Đáng chú ý là một số trí thức có uy tín đã tự nguyện ra đấu tranh hợp pháp nhằm đoàn kết rộng rãi tầng lớp trí thức, nhân sĩ trong và ngoài thành phố, hạn chế tác động tuyên truyền của bọn phản động. Nhiều người tham gia viết báo gửi kiến nghị bày tỏ lòng tin tưởng của giới trí thức với Đảng, Bác Hồ kính yêu.

Việc thâm nhập vào trại tập trung di cư, trại lính cũng được chú trọng. Thành uỷ phân công khu vực cho từng bộ phận, từng ngành có nhiệm vụ vận động tuyên truyền nhân dân: Ban Thương chức: Trường Xanh Giô-dép, nhà A-F-A,  đường Ngô Quyền; Ban địch vận: Khu Lạc Viên,  Phong Lợi Thành; Đoàn thanh niên: Trường Ngô Quyền, trường Phan Chu Trinh, trường Hàng Kênh, đình và miếu Dư Hàng; Công đoàn: Phố Dinh, bãi Xi măng,  Cam Lộ , chù An Dương… Khu đoàn thanh niên cứu quốc Tả Ngạn cử một đoàn cán bộ tăng cường về Kiến An giúp tổ chức đoàn địa phương, vận động các gia đình ở lại. Anh  em vào các trại di cư ở An Lạc, Đồng Giới  (An Dương) vận động đồng bào giáo dân ở lại.

Bằng cách “tìm người nhà”, cán bộ và cơ sở bí mật vào trại tập trung di cư, gặp nhân dân khơi gợi tình cảm gia đình, tình làng nghĩa nước, vận động giáo dân trở về quê hương. Một số đồng bào mới từ miền Nam trở ra được đưa vào trại, kể lại sự thật hỗn loạn của chính quyền phản động thân Mỹ. Những câu chuyện thật ấy tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm của dân di cư. Tình cảnh nheo nhóc khổ cực thiếu ăn, thiếu mặc, phải bán đồ đạc, bán con cái, nhiều em nhỏ cụ già bị chết thảm thương vì đói, bệnh làm cho nhiều gia đình tự bỏ trốn trại. Giáo dân trú ở trường Ngô Quyền đấu tranh đòi về quê, buộc bọn Pháp phải đưa về Hà Nội. Tháng 9-1954 có 335 gia đình bỏ trại, tháng 10-1954 tăng lên 1200 gia đình.

Ở nông thôn, nhất là những làng công giáo Nam Am, Vạn Hoạch, An Quý,  Thiết Tranh  (Vĩnh Bảo); Đông Côn, Thuý Nẻo,  Đông Xuyên (Tiên Lãng); Xâm Bồ, Nam Pháp (Hải An) v.v… tình hình khá phức tạp. Không được tự do phá phách, bọn phản động trà trộn trong dân, lợi dụng tín ngưỡng kích động giáo dân.  Do bị bọn xấu xúi giục, giáo dân đã lẩn tránh cán bộ, bộ đội. Nhiều gia đình giấu hết đồ dùng, thức nấu không cho cán bộ vào nhà, thậm chí hành hung bộ đội, cán bộ.

Nhân dân Tiên Lãng, Vĩnh Bảo góp phần tích cực vận động giáo dân từ Ninh Bình, Thái Bình… qua địa phương ra Hải Phòng. Đây là số đông giáo dân được phép di cư, tới Quý Cao dừng lại nghỉ. Tỉnh Kiến An thành lập bộ phận đón tiếp, cử cản bộ, bộ đội tới thăm hỏi giúp đỡ, nhân đó vận động họ trở về quê.  Nhân dân gần đó mang đồ ăn, thức uống tới hộ tạo nên mối thiện cảm sâu sắc. Đồng bào ra đi rất cảm động trước tình cảm và sự chăm sóc của cán bộ, bộ đội và nhân dân Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Họ cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới sự quan tâm của Chính phủ. Nhiều cụ già đã khóc khi chia tay. Nhiều gia đình đã trở về quê hương.

Làn sóng đấu tranh sôi động của công nhân và nhân dân lao động nội ngoại thành hoà nhịp với đấu tranh của anh em tù chống địch di chuyển và sát hại tù nhân. Thực dân Pháp đã vi phạm quy định về việc trao trả tù binh. Từ tháng 6-1954, trước nguy cơ thất bại hoàn toàn về quân sự, chúng bí mật giết hại hoặc chuyển nơi khác anh em ở các nhà tù, trại giam, điển hình là ở căng Đoạn Xá, căng Máy Chai…

Ngày 17-6-1954, tàu Xanh Mlsen (Sainht  Michel) chở đi 1000 tù, ngày 4, 5, 6 nhiều máy bay chở tù căng Đoạn Xá đi. Ngày 21-6, lính Pháp dồn 5000 tù xuống tàu biển.  Ngày 17-8-1954 tiếp tục đưa 2000 tù xuống tàu.

Theo dõi sát tình hình trên, tổ chức Đảng trong tù liên hệ với bên ngoài, động viên anh em làm đơn tố cáo gửi lên Uỷ ban quốc tế. Các chi bộ Đảng bàn kế hoạch đấu tranh chống địch di chuyển tù. Ngày 17-8-1954, khi lính Pháp dồn 2000 tù xuống tàu, anh em hò la phản đối. Tiếp đó 240 tù ở  căng Đoạn Xá nhất loạt làm đơn kiến nghị, yêu cầu Uỷ ban quốc tế can thiệp.

Những “bức tường” người chặn cổng nhà tù, mà kẻ địch không thể chuyển tù được. Từng đoàn đại biểu nhân dân hàng ngày kéo tới trụ sở Uỷ ban quốc tế đưa đơn. Trước khí thế đấu tranh sôi sục của hàng vạn người, Pháp buộc phải chấp nhận thả tù.

Cuộc đấu tranh của nhân dân Hải Phòng chống địch sát hại tù nhân đã nổ ra đúng lúc và thu được thắng lợi. Thắng lợi này góp phần cổ vũ mạnh mẽ khí thế cách mạng của nhân dân trong khu vực tập kết.

Tháng 2 năm 1955, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đưa đoàn chiến sĩ đấu tranh bảo vệ hoà bình từ Sài Gòn-Chợ Lớn ra quản thúc tại Hải Phòng, trong đó có luật sư Nguyễn Hữu Thọ và giáo sư Phạm Huy Thông. Những ngày đầu anh em được bố trí ở tại khách sạn Vạn Hoa Lâu (Hôtel Mille Fléu) 11 Lạch Tray, bị canh giữ chặt chẽ. Sau đó họ phải tự trả tiền ăn, tiền thuê buồng và chỉ được phép đi lại trong phạm vi thành phố Hải Phòng, cứ 10 ngày phải đến sở cảnh sát trình diện. Thành uỷ Hải Phòng bí mật liên lạc với đoàn, cử cán bộ tới thăm hỏi, chăm sóc sức khoẻ và cung cấp tin tức cần thiết. Nhân dân tự nguyện góp tiền ủng hộ, được 3.000đ, chăn màn, quần áo, thuốc chữa bệnh và làm đơn đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải trả lại tự do cho anh em. Gần đến ngày tiếp quản Hải Phòng, giáo sư Phạm Huy Thông được bố trí đưa ra vùng giải phóng Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và những anh em khác đấu tranh buộc địch phải đưa trở lại Sài Gòn.

Song song với những cuộc đấu trạnh chống cưỡng ép di cư, chống bắt lính…  Thành uỷ Hải Phòng và Tỉnh uỷ Kiến An đẩy mạnh công tác vận động công nhân, nhân dân nội thành, nội thị đấu tranh chống di chuyển phá hoại máy móc, tài sản.

Buộc phải rút khỏi thành phố Hải Phòng, Pháp và Mỹ cố ý phá hoại thành phố Cảng-công nghiệp. Chúng muốn di chuyển hoặc phá huỷ hết tài sản máy móc, thiết bị tài liệu quan trọng với mưu đồ để lại một thành phố chết. Cuộc đấu tranh mới gay go giữa ta và địch đòi hỏi phải xây dựng lực lượng mạnh trong các xí nghiệp, công sở. Trước hết Thành uỷ đưa nhiều cán bộ thâm nhập vào nhà máy công, tư sở thực hiện chủ trương tiến hành công tác điều tra nắm tình hình từng cơ sở, xí nghiệp. Yêu cầu của công tác điều tra lúc này là phục vụ cho công tác trước mắt và chuẩn bị cho công tác thu hồi sau này. Việc phát  triển cơ sở vào nội thành đã có nhiều thuận lợi. Không khí hoà bình, chiến thắng tràn ngập khắp nơi, quần chúng mong mỏi Chính phủ vào tiếp quản nên hết lòng ủng hộ cán bộ, vì vậy cơ sở Đảng và các đoàn thể phát triển rất nhanh, đều khắp. Tới cuối năm 1954, hầu hết các xí nghiệp, công tư sở quan trọng đã có tổ trung kiên và cơ sở tin cậy. Đặc biệt, nhiều cai ký và đốc công sẵn sàng làm theo yêu cầu của cách mạng. Họ cung cấp những tài liệu vô cùng quý giá và cần thiết về hoạt động của Cảng, hệ thống phao tiêu sông biển, sơ đồ mạng lưới điện, cấp, thoát nước trong thành phố…

Pháp và Mỹ hối hả vận chuyển máy móc, nguyên liệu vào Nam, triệt tiêu mọi cơ sở vật chất kỹ thuật không để lọt vào tay cộng sản. Rút kinh nghiệm từ cuộc rút lui Hà Nội, chúng bổ sung kế hoạch phá hoại Hải Phòng bằng nhiều thủ đoạn xảo quyệt và độc ác: Tập trung vào các trọng điểm, bằng mọi cách chuyển nhanh tài sản, hồ sơ, tài liệu,  nơi nào không chuyển được thì phá huỷ, dùng vũ lực trấn áp nếu bị ngăn cản… Chúng đặc biệt quan tâm đến các xí nghiệp cơ khí, giao thông, điện, nước, cảng, nhà thương, bưu điện… ép các nhà tư sản công thương nghiệp cũng phải chuyển theo. Từ ngày 20 đến 22-2-1954, hội nghị Thành uỷ Hải Phòng mở rộng đã bàn chủ trương và biện pháp chống địch di chuyển máy móc. Nghị quyết hội nghị ghi rõ: Phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân không phân biệt giàu nghèo lương giáo, đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh chống âm mưu vi phạm Hiệp định của địch… chống di chuyển phá hoại máy móc tài liệu tài sản ở các công sở, xí nghiệp công và tư, chú ý Máy Đèn, Máy Nước, Sáu kho, Công chính, Bưu điện, Lục lộ thuỷ, Ga xe lửa, nhà thương, trường học… Nghị quyết Tỉnh uỷ Kiến An nêu rõ những cơ sỏ cần chú trọng bảo vệ như: Đài Phù Liễn,  Bưu Điện, Công chính, y tế, điện…

Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng bộ, cuộc đấu tranh bảo vệ máy móc, tài sản, chống giãn thợ kết hợp với đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, lan rộng cả hai tỉnh thành. Dựa vào pháp lý Hiệp định Giơnevơ, nhân dân Hải Phòng-Kiến An nêu cao khẩu hiệu “Máy móc là xương, là thịt của công nhân”, đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù. Từ tháng 9 năm 1954, phong trào đấu tranh mở ra được đông đảo công nhân, lao động trong và ngoài thành phố ủng hộ. Tới tháng 10 năm 1954, phong trào phát triển cành mạnh, sội động. Máy Điện, Cảng, Hoả xa, Công chính, nhà thương v.v… là những cơ sở có phong trào liên tục trong suốt 300 ngày. Tại Ga, ngày 27-10-1954, hơn 300 công nhân đấu tranh giữ lại đầu máy và các toa xe khi chủ sở ra lệnh tháo dỡ máy. Nhân dân ở gần Ga kéo tới hỗ trợ. Từ 300-400 người lúc đầu đã lên tới 700-800 người. Ngày và đêm đoàn người bao vây chặt khu Ga. Lính Âu-Phi, cảnh sát, cảnh binh tới đàn áp, đánh bị thương một số người. Những người đấu tranh vẫn giữ vững đội ngũ, thuyết phục binh lính, đồng thời tổ chức đưa những người bị thương lên Uỷ ban quốc tế tố cáo việc làm sai trái của thực dân Pháp.

Ngày 20 tháng 12, được 3000 công nhân lao động toàn thành đến hỗ trợ, công nhân Ty công chính đấu tranh giữ 7000 tấn máy thắng lợi. Công nhân Hoả xa đấu tranh giữ hàng chục tấn sắt, làm đường ray khi chủ định bán cho người khác. Ở nhà máy Điện Cửa Cấm, ngày 31-1-1955, địch chuyển 12 hòm máy phát điện và dây cáp. Công nhân Máy Điện cùng nhau tranh đấu. Khẩu hiệu “Giữ gìn máy để giữ ánh sáng” như một mệnh lệnh chiến đấu nhanh chóng lan khắp thành phố, thu hút mọi người kéo về nhà máy Điện. Công nhân và nhân dân nội thành cùng nông dân Đoạn Xá, Thượng Đoạn, Hạ Đoạn… hăng hái ủng hộ. Kẻ thù đưa hàng trăm lính tới khủng bố nhưng đội ngũ công nhân vẫn đoàn kết cương quyết. Nhiều người dũng cảm nằm năn trên đường cản xe, tốp khác hăng hái trèo lên xe đấy hòm xuống. Sức mạnh của lòng dân đã chiến thắng bạo lực. Bọn địch buộc phải để lại máy. Nhân dân vô cùng phấn khởi vì đã bảo vệ được dòng điện, giữ gìn ánh sáng.

Bám sát tình hình thực tế, Thành uỷ để ra những biện pháp tích cực nhằm huy động mọi lực lượng nhân dân tranh đấu phá âm mưu địch. Khẩu hiệu “giữ máy móc tài sản để giữ việc làm” hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của quần chúng lao động. Công nhân đã tỏ rõ khí phách kiên cường trước âm mưu độc ác của kẻ thù. Anh em tự động phân tán, cất giấu tài sản, máy móc vào nhà dân hoặc ở nơi kín đáo, tháo rời những bộ phận máy quan trọng nhất đến những chi tiết bình thường nhất. Công nhân đấu tranh bằng mọi hình thức: chây ì khi nghe lệnh chủ, làm đơn tập thể khiếu nại, cùng nhau gặp chủ chất vấn, tổ chức canh gác bảo vệ máy. Nhiều người mang cơm nắm, bánh trái ăn ngủ tại nhà máy. Khi cần thiết công nhân được tập hợp nhanh chóng, vừa đấu lý với chủ, vừa xông vào giữ máy, người khác tìm cách thuyết phục cai ký hoặc binh lính. Hầu hết các nhà máy, công tư sở liên tiếp nổ ra đấu tranh quyết liệt giữ máy, bảo vệ tài sản. Ở ty Công chính kiều lộ, 300 công nhân đồng lòng giữ Rulô([1]) và nguyên vật liệu. Mặc dù bị đàn áp đánh đập, công nhân và nhân dân lao động vẫn kiên trì bám máy. Tại Cảng, địch lén lút chuyển đi nhiều loại hàng hoá tốt. Các kho bãi, cầu tầu đều đầy vật chướng ngại. Nguy hiểm hơn, chúng để lại hải đồ giả và các phương tiện xấu, cũ nát. Chúng khẳng định “Việt Minh có là thần thánh cũng phải hai năm mới khôi phục nổi Cảng tê liệt này”.

Với ý thức cảnh giác cao, theo dõi hàng ngày, hàng giờ âm mưu và hành động của địch, công nhân đấu tranh giữ lại các tầu HC1, HC5 Long Châu, Hòn Dáu cùng với nhiều cần cẩu và phương tiện khác. Số công nhân kỹ thuật, nhân viên giữ hồ sơ tài liệu và cả tầng lớp cai ký được giác ngộ cũng tìm cách gửi ra ngoài những tài liệu quý về hệ thống luồng lạch ra vào cảng, phao đăng tiêu trên các tuyến sông, biển. Công nhân Xi măng cất giấu chi tiết máy, hồ sơ vận hành máy… Chỉ trong một tuần (Từ 12-3 đến 17-3-1955), nội thành Hải Phòng có 15 cuộc đấu tranh giữ máy móc, chống giãn thợ ở nhà máy Xi măng, Máy Chai, trại pháo thủ, xưởng Marin, sở bưu điện…

Tiếp quản tốt Hải Phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân. Các lớp huấn luyện tiếp quản, bồi dưỡng cán bộ nghiệp vụ quản lý ngành nghề được mở liên tục. Thành uỷ Hải Phòng nhấn mạnh đặc điểm dân cư và sinh hoạt đô thị, nhắc nhở cán bộ chú ý trước khi vào tiếp quản. Cạnh đó, những tư tưởng chủ quan mất cảnh giác, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cũng bị phê phán nghiêm khắc. Bộ máy cán bộ các ngành nghiệp vụ được chuẩn bị chu đáo để khi tiếp thu là quản lý được ngay.

Ngày 5-4-1955, Thành uỷ triệu tập Hội nghị cán bộ toàn thành, nhằm quán triệt Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy của Trung ương và bàn nhiệm vụ tiếp quản thành phố Hải Phòng. Hội nghị thảo luận kỹ mục tiêu của công tác tiếp quản: “ổn định lòng dân, ổn định trận tự, phục hồi nhanh chóng sinh hoạt bình thường của thành phố. Vùng ngoại thành chủ yếu ổn định trật tự an ninh, ngăn ngừa mọi hoạt động quấy rối phá hoại của tay sai địch”. Cuối tháng 4-1955, Thành uỷ Hải Phòng và Tỉnh uỷ Kiến An tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng bộ nhằm giúp cán bộ đảng viên nhận rõ tình hình nhiệm vụ cách mạng bước sang giai đoạn mới và nâng cao lập trường, tư tưởng đứng đắn trong mọi người. Việc chuẩn bị kế hoạch cho Đội hành chính và trước cũng được chuẩn bị khẩn trương. Căn cứ vào danh sách các công sở, xí nghiệp, Thành uỷ bố trí đủ cán bộ vào nhận bàn giao. Nhiều anh em đã tham gia tiếp quản Thủ đô Hà Nội cũng được Trung ương điều về tiếp quản Hải Phòng. Đội hành chính trật tự là người đại diện cho Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra mắt trước quần chúng trong vùng tạm chiếm. Những việc cần thiết trước mắt được hoàn tất gọn gàng, đối chiếu tài sản trên cơ sở tài liệu kiểm kê đã lập từ trước, ổn định tư tưởng nhân dân, cùng công nhân viên tại chỗ bảo quản giữ gìn tài sản, tài liệu. Một khối lượng lớn hàng hoá cần thiết được chuẩn bị sẵn như gạo, chất đốt, tiền, đường… để phục vụ đời sống nhân dân ngay sau ngày tiếp thu thành phố. Hàng vạn tấn gạo, củi, than…từ các tỉnh, huyện bạn được vận chuyển về gần Hải Phòng. Nhân dân ven thành hăng hái chuẩn bị rau quả tươi chờ ngày giải phóng, góp phần ổn định thị trường.

Ngày 5-5-1955, hai đội hành chính-trật tự xuất phát từ Quỳnh Khê tiến vào nội thành và Tỉnh lỵ Kiến An. Nhân dân đứng chật hai bên hè phố hoan hô đoàn cán bộ hành chính và trật tự của Chính phủ xuất hiện công khai giữa thành phố sau chín năm kháng chiến. Ở Hải Phòng, sau ngày đầu tiếp xúc giữa hai trưởng đoàn, những ngày tiếp theo thật sự là những ngày đấu tranh căng thẳng giữa ta và địch khi tiến hành kiểm kê bàn giao các công sở, xí nghiệp, cơ quan cảnh sát, trại giam… Tội ác của Pháp và Mỹ bị tháo dỡ mang đi chỉ còn lại một số tài sản không quan trọng. Tài sản của quân đội di chuyển gần hết. Sân bay Cát Bi thiếu 7000 tấn, ty Công chính thiếu 3000 tấn… Nhiều xí nghiệp công sở không còn tài liệu…

Do công tác điều tra chuẩn bị tốt từ trước, được sự giúp đỡ nhiệt tình của công nhân, viên chức, ta đã nắm được những số liệu cần thiết, có đủ chứng cứ đấu tranh với địch. Chính đối phương cũng phải kinh ngạc khi thấy cán bộ Việt Nam đưa ra những tài liệu, hồ sơ thật chính xác của Cảng, ty Công chính kiều lộ thành phố, Máy Đèn, Máy Điện, Máy Nước… Trước thực tế không thể chối cãi, thực dân Pháp lại gây khó khăn trong khi bàn giao, hòng kéo dài thời gian, tìm mọi cách ngăn cản sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa nhân dân với cán bộ và giữa cán bộ hành chính – trật tự với thành viên Uỷ ban quốc tế. Ngày 8-5, các cán bộ hành chính kiên quyết phản đối thái độ trên của Pháp, đồng thời phản kháng lên Uỷ ban quốc tế. Về nội bộ Đội hành chính cũng được kịp thời uốn nắn, tư tưởng chủ quan xuất hiện ở một số cán bộ khi thấy ta đạt những thắng lợi bước đầu trong bàn giao. Có đồng chí còn thiếu cảnh giác tin vào ‘thiện chí” của Pháp. Nhân dân nội thành đã theo dõi và chứng kiến ngay từ đầu việc làm thực tế của những người đại diện chính quyền cách mạng. Họ thực sự tin tưởng và hết lòng giúp đỡ cán bộ làm nhiệm vụ, phát hiện nhiều tài liệu, tài sản  địch cất giấu.

Theo đúng quy định của Hiệp định Giơnevơ, ngày 28 tháng 4 ta đã tiếp quản huyện An Dương; ngày 8-5 tiếp quản Hải An; ngày 10-5 tiếp quản tỉnh lỵ Kiến An. Ngày 13 tháng 5, tiếp quản thành phố Hải Phòng; ngày 14, 15 tháng 5 tiếp quản huyện Kiến Thụy và thị trấn Đồ Sơn; ngày 16 tháng 5 tiếp quản huyện đảo Cát Hải-Cát Bà, vị trí cuối cùng của thực dân Pháp ở miền Bắc Việt Nam.

Đêm 12 tháng 5, nhân dân Hải Phòng không ngủ. Rạng sáng ngày 13-5-1955, đường phố đã chật kín người. Nhân dân nội thành xuống đường hoà cùng nhân dân ngoại thành đón mừng đội quân giải phóng tiến vào thành phố. Bộ đội tiến tới đâu, rừng cờ hoa nở ra tới đó. Nhà nhà mở tung cửa vẫn khép kín lâu nay. Hải Phòng rực rỡ cờ hoa, biểu ngữ và những bộ quần áo đẹp, đón chào những người con thân yêu của mình. Sắc cờ hoa rạng trên gương mặt mỗi người, ánh lên niềm vui vô tận mừng ngày giải phóng. Nhiều người sung sướng quá ùa vào giữa hàng quân, ôm chầm anh bộ đội, gửi gắm lòng tin yêu cảm phục vô bờ. Không ai để ý tới đội quân Pháp đang lầm lũi bước ra Cảng, xuống tầu. Lá cờ ba sắc bị kéo xuống, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ thực dân trên miền Bắc Việt Nam. Chiều 13 tháng 5, người dân đất Cảng được chứng kiến cảnh tượng những tên lính Pháp xâm lược cuối cùng cuốn gói ra đi trên chiếc tàu đổ bộ.

Hải Phòng sạch bóng quân thù, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Thành phố cảng sôi động khi đoàn xe lửa rước cờ đỏ sao vàng và ảnh Bác Hồ tiến vào Cảng.  Nhà máy, công sở và những con tầu đồng loạt cất lên hồi còi dài chào mừng ngày lịch sử quang vinh của đất cảng, của dân tộc.

Lá cờ đỏ sao vàng chiến thắng kiêu hãnh tung bay trên bầu trời Hải Phòng, báo hiệu một trang sử mới bắt đầu. Ngày 13-5-1955, mãi mãi khắc sâu vào trí nhớ người dân đất Cảng giờ phút vinh quang hào hùng của thành phố “Trung dũng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm chú theo dõi ngày giải phóng Hải Phòng.  Người xúc động viết lên những dòng cảm mến tự hào “Trải qua tủi nhục hơn 80 năm, hôm nay Hải Phòng đã vươn mình dậy giải phóng. Khắp phố phường cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ như hoa nở mùa xuân. Hàng vạn đồng bào, già trẻ, gái trai, đủ các tầng lớp toả ra hoan nghênh bộ đội và cán bộ. Nét mặt mọi người như mùa xuân hoa nở. Những năm chịu đựng gian khổ, đoàn kết chiến đấu đã kết quả vẻ vang. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng. Hải Phòng đã hoàn toàn giải phóng”([2]). Thành phố Hải Phòng và khu 300 ngày được giải phóng, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Nếu như việc giải phóng miền Bắc được bắt đầu bằng thắng lợi của tiếp quản Thủ đô Hà Nội thì nó đã được kết thúc bằng thắng lợi của tiếp quản thành phố Hải Phòng.

Thắng lợi của việc tiếp quản thành phố Hải Phòng và khu 300 ngày căn bản là do thắng lợi của 9 năm kháng chiến của nhân dân cả nước, đỉnh cao là chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng, đã tiêu diệt những lực lượng tinh nhuệ của quân đội viễn chinh Pháp, đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải cam kết rút quân khỏi miền Bắc và rút quân khỏi ba nước Đông Dương. Thắng lợi đó là do đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của việc tiếp quản thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An trực tiếp là do công sức đấu tranh của quân dân hai tỉnh, thành trong 9 năm kháng chiến trường kỳ đã chiến đấu gian khổ, không sợ hy sinh, luôn luôn tin tưởng và đi theo đường lối chủ trưởng của Đảng.

Thắng lợi đó là do Trung ương Đảng, Khu uỷ Tả Ngạn lãnh đạo chặt chẽ việc tiếp quản Hải Phòng và Kiến An với sự chuẩn bị chu đáo, kế hoạch cụ thể, nắm chắc tình hình thực tế chỉ đạo  kịp thời biết dựa vào dân và phát huy sức mạnh của nhân dân kết hợp với cơ sở pháp lý Hiệp nghị Giơnevơ của hai Đảng bộ đứng đầu là Thành uỷ Hải Phòng và Tỉnh uỷ Kiến An.

Thắng lợi của tiếp quản Hải Phòng-Kiến An có sự phối hợp, giúp đỡ hết lòng của các tỉnh anh em về cán bộ, cơ sở vật chất và bằng các hành động ủng hộ, đoàn kết chặt chẽ của tình đồng chí và anh em.

([1]) Rouleau compresseur, xe lăn đường thường gọi là “xe lu”

([2]) CB – Sau 83 năm – Báo Nhân dân số ra ngày 18-5-1955.

LEAVE A REPLY